DANH MỤC
Du lịch Vietpower - Nối Kết Bạn Và Thế Giới
HOTLINE: 024 3640 1905 - 0936 336 389
Hỗ trợ khách hàng zalo viber 0947 522 266 skype Chat

»
»

Nga là một thị trường tiêu thụ hải sản tiềm năng mà Việt Nam cần chú trọng  và đẩy mạnh giao thương trong thời gian tới. Tổng sản phẩm đánh bắt xa bờ của Nga năm 2014 khá ổn định, giảm không nhiều so với năm 2013. Nga tiếp tục tái cơ cấu tổng thể ngành thủy sản, từ quản lý nguồn lực tới khâu chế biến và phân phối, thông qua hàng loạt nghị quyết và điều luật nhằm cải thiện các quy định và tính minh bạch. Tuy nhiên, đội thuyền lỗi thời cùng với hạ tầng cảng cá kém phát triển, nạn đánh bắt trộm, thủ tục hành chính rườm rà và thiếu đầu tư đồng bộ vẫn là những rào cản chính cho sự phát triển bền vững của ngành.

 

Sản lượng

Đánh bắt xa bờ

Trung tâm giám sát đánh bắt cá thuộc Cục Liên bang Thủy sản Nga (Rosrybolovstvo) đã công bố báo cáo ước tính sản lượng đánh bắt xa bờ năm 2014 đạt 4.215 triệu tấn, thấp hơn khoảng 2% so với  năm 2013. Nguyên nhân là do sự sụt giảm lượng cá hồi hồng di cư tới các địa điểm chúng thường đến ở phía đông nước Nga, chẳng hạn như khu vực Kamchat ở Kuril và phía Nam Kuril như mong đợi. Hơn nữa, điều kiện đánh bắt khó khăn tại biển Bering trong mùa câu cá biển và việc giảm hạn ngạch cá trích ở Okhotsk là những yếu tố dẫn đến kết quả trên. Trong khi đó, thu hoạch các loài khác, bao gồm cá thu, cá bẹt, cua và tôm đã gia tăng. Tuy nhiên, sản lượng đánh bắt xa bờ ở Nga luôn ở mức thấp hơn so với trước.

 

Ngoài khơi lưu vực phía đông, ngư dân Nga đã thu hoạch được 2,7 triệu tấn cá và hải sản trong năm 2014, thấp hơn tới 100.000 tấn so với cùng kỳ năm 2013. Lý giải cho mùa đánh bắt thất bại này là sự suy giảm trong việc đánh bắt cá Pollock tại biển Okhotsk, biển Bering và vùng biển Nhật Bản.

 

Ở lưu vực phía Bắc, tổng sản lượng đánh bắt ước tính ở mức 570.000 tấn, thấp hơn 43.000 tấn so với năm 2013. Sự sụt giảm này là do việc giảm qui mô đánh bắt cá ót vảy và cá vược nhỏ xuống mức 35.800 tấn và 25.700 tấn mỗi loại.

 

Ở biển Baltic, sản lượng đánh bắt năm 2014 tăng nhẹ và ước tính đạt mức 47.900 tấn  nhờ vào việc tăng qui mô đánh bắt cá trích và cá trích cơm.

 

Điều kiện thời tiết tốt đầu năm 2014 tạo thuận lợi cho việc đánh bắt ở biển Azov, biển Đen và Biển Caspi. Ngư dân đã đánh bắt được 51.000 tấn cá và hải sản các loại ở biển Azov và biển Đen trong năm 2013, nhiều hơn gần 20.000 tấn so với cùng kỳ năm 2012. Những kết quả này có được chủ yếu là do sản lượng đánh bắt cá trích cơm và cá đối tăng mạnh. Tổng thu hoạch ở lưu vực Caspian đạt mức 36.600 tấn năm 2014, thấp hơn 3.300 tấn so với năm trước.

 

Rosrybolovsto cũng báo cáo rằng trong năm 2014 ngư dân Nga đã đánh bắt được 534.500 tấn cá ở các khu vực khác trong nước Nga, giảm khoảng 14.200 tấn so với năm 2013. Ở các vùng tham gia công ước và ở vùng biển cao, sản lượng đánh bắt năm 2014 đạt mức 211.100 tấn, tăng 40,1% so với năm 2013.

 

Những giống cá chính mà Nga đã đánh bắt xa bờ được bao gồm cá Pollack Alaska (chiếm 35-40% tổng sản lượng), tiếp đến là cá thu Thái Bình Dương và cá thu Đại Tây Dương (khoảng 12% ) và cá trích (11%). Mặc dù cá hồi chỉ chiếm 9% tổng sản lượng (xét riêng về khối lượng), nhưng loại cá này lại rất quan trọng vì giá trị cao của nó, tương tự, cá thu, cá ót vảy, cá thu đao Thái Bình Dương, cá bơn lưỡi ngựa, cá vược nhỏ, và cua, sản lượng gộp của những loại này chiếm 23% .

 

Sản lượng thuỷ sản đánh bắt xa bờ của Nga, đơn vị: nghìn tấn

 sản lượng đánh bắt xa bờ của Nga năm 2014

Nguồn: Cục thuỷ sản Liên bang

 

Sản lượng đánh bắt thuỷ sản xa bờ tình theo loài của Nga, đơn vị: nghìn tấn

 sản lượng đánh bắt xa bờ tính theo loại của Nga năm 2014

Nguồn: Cục thuỷ sản Liên bang

 

Tổng sản lượng đánh bắt cho phép (TAC) cho năm 2015

Chính phủ Nga quyết định tổng sản lượng được phép đánh bắt cá và hải sản (TAC) hàng năm. Bộ Nông nghiệp Liên bang Nga phê duyệt mức TAC trong năm 2015 tại chỉ thị số 339 ban hành ngày 21 tháng 10 năm 2014. Với chỉ thị này, Bộ đã đặt mức TAC cho tất cả vùng biển trong nước, lãnh hải của Liên bang Nga và cả vùng thềm lục địa cũng như khu vực đặc quyền kinh tế của Nga, tại biển Azov và biển Caspian. Mức TAC cho các sông hồ và hồ chứa khác trên toàn lãnh thổ Nga, cũng do Bộ Nông nghiệp ban hanh vào ngày 19 tháng 11 năm 2014, qua chỉ thị số 458.

 

Phân bổ các giống cá chủ yếu đã bắt được ở các ngư trường chính được trình bày trong bảng dưới đây. Nói chung, mức TAC của hầu hết các giống cá đã trở nên tương đối ổn định năm này sang năm khác, cho dù một số giống được xem là tương đối biến động. Ví dụ, mức TAC cho cá trích Thái Bình Dương ở lưu vực phía Đông và vùng biển Nhật Bản năm 2015 được ước tính ở mức 50% tùy vào đặc trưng biến động các giống cá trong đàn. Mức TAC đối với cá thu và cá bơn phía Đông giảm 15% ở lưu vực phía Đông nhằm hỗ trợ phục hồi các giống cá này trong khu vực đánh bắt. Ngoài ra, các mức TAC cho từng loại cua khác nhau đã ổn định với mức tăng lớn hơn, chẳng hạn TAC cho cua Kamchatka ở biển Barents tăng từ 6.500 tấn lên 7.000 tấn, ở biển Okhotsk thì TAC tăng từ 6.200 tấn lên 7.000 tấn, đây là kết quả của việc khôi phục được số cá thể cua và thực thi pháp luật mạnh mẽ hơn để chiến đấu với nạn săn trộm, cũng như là hợp tác nghiên cứu khoa học chi tiết hơn. Ngoài ra, TAC cho mực ống ở lưu vực Phía Đông, và cá thu ở biển Okhotsk đã chứng minh cho thấy sự tăng trưởng ổn định do cải thiện được số lượng cá thể của các loài.

 

Theo các nhà khoa học từ Viện nghiên cứu Khoa học Thủy sản của Nga (VNIRO), mức TAC cho tất cả các giống cua có thể tăng từ hạn ngạch hiện tại là 56.700 tấn trong năm 2015 lên mức 71.900 tấn vào năm 2017, phần lớn là do sản lượng cua đã được khôi phục. Các nhà khoa học cũng dự báo rằng, mức TAC cho giống cua có giá trị cao nhất, Cua Vua, có thể tăng từ mức hiện tại là 7.000 tấn cho tới 20.000 đến 25.000 tấn trong hai đến ba năm tới.  Do đánh bắt được ngày càng nhiều, giá thịt cua dự đoán sẽ trở nên hợp lý hơn cho người dân địa phương.

 

Giá cả

Theo Ủy ban Thống kê Nga (Rosstat), giá bán lẻ cá và hải sản đã tăng 30,8% từ tháng 2 năm 2014 cho tới tháng 2 năm 2015. Giá bán lẻ cho cá đã làm sạch tăng 32% từ tháng 8 năm 2014.

 

Từ tháng 1 năm 2015, giá bán lẻ cá trích đã tăng 11,1% (nhiều nhất là 103,5 rúp cho một kilogram). Giá cá sống tăng 2,9% (149,3 rúp một kilogram). Giá cá đông lạnh tăng vọt từ 109,6 rúp thêm 9,2%, trong khi giá cá phi lê tăng 2,2%, đạt mức 228 rúp.

 

Trong một nỗ lực nhằm kìm hãm việc tăng giá tại thị trường nội địa, Rosrybolovstvo đã đề xuất tăng mức thuế xuất khẩu cho các sản phẩm cá từ mức 3% hiện tại nhằm tăng giá bán lên mức 0,3 USD/kg. Gần đây, đề xuất đang được Cộng đồng thủy sản và các Hiệp hội khác thảo luận.  Các chuyên gia tin rằng nếu thuế xuất khẩu tăng, nguồn cung cá và các loại hải sản khác sẽ gia tăng ở các thị trường địa phương từ 200.000 đến 300.000 tấn và thu về thêm 500 triệu USD cho ngân sách liên bang. Ngư dân đang quan tâm đến chi phí tăng trong mỗi mùa thu hoạch và tự tin rằng những loại phí tăng chủ yếu cho khâu chế biến, vận chuyển và bán hàng cá. Họ cho rằng tăng thuế xuất khẩu sẽ làm giảm lợi nhuận từ việc đánh bắt thủy sản. Mặt khác, ngành chế biến cá đang ủng hộ quan điểm của Rosrybolovstvo và hi vọng rằng sáng kiến này sẽ sớm được ban hành.

 

Theo Chủ tịch của Liên đoàn doanh nghiệp, doanh nhân và các nhà xuất khẩu thủy sản toàn Nga (VARPE), ông Aleksandr Fomin, chi tiêu của ngư dân cho các nguồn cung sản xuất, chẳng hạn như dụng cụ ngư trường, nhiên liệu và vật liệu đóng gói đang tăng lên vì được đặt mua bằng đồng đô la Mỹ hoặc đồng Euro.

 

Giá chốt cho cá và hải sản được dựa trên tổng chi phí dịch vụ sản xuất và chi phí cộng lại từ các bên liên quan trong thị trường, bao gồm các nhà bán lẻ, nhà chế biến, các công ty vận chuyển. Ngư dân tin rằng nếu thuế xuất khẩu tiếp tục tăng lên đến 10%, chi phí sẽ không hiệu quả để thu hoạch cá và hải sản. (Còn nữa)

(TH từ Internet)

Các bài viết khác

Chat Facebook
Gọi điện ngay